Vì sao đồng bằng sông Hồng không thể trở thành vựa lúa của cả nước như Đồng bằng sông Cửu Long?

Qua bài viết này mvatoi.com.vn xin chia sẻ với các bạn thông tin và kiến thức về hot nhất hiện nay được bình chọn bởi người dùng

Đồng bằng sông Cửu Long – Vựa lúa của cả nước

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích là 40.816,3 km2, rộng gần gấp đôi đồng bằng sông Hồng (21.260,3 km2). Đây là vựa lúa của cả nước, cung cấp hơn 50% sản lượng gạo cho quốc gia và hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu.

Tuy nhiên, điều khiến Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa của cả nước một phần là do khi tiến hành khai hoang, mở đất về phương Nam, các chúa Nguyễn và vua nhà Nguyễn không áp dụng “kĩ thuật” đắp đê quai vạc như ở ngoài Bắc.

Các bạn có bao giờ đặt câu hỏi tại sao đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa trù phú, cứu đói miền Bắc trong những năm mất mùa? Bởi vì ở đó không có hệ thống đê điều chằng chịt, lũ đồng bằng sông Cửu Long về không chỉ mang theo những nguồn lợi tự nhiên như tôm, cá để tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương, mà còn mang một lượng phù sa khổng lồ để bồi tụ cho đồng ruộng.

Một thứ “quy tắc” của tự nhiên, ấy là: Dòng sông tạo ra đồng bằng phải được “chung sống” với chính cái đồng bằng mà nó tạo ra là về mùa mưa hằng năm, nước sông phải được dâng lên phủ khắp lưu vực của nó, nhân đó mỗi năm bồi đắp thêm cho đồng bằng của nó một lớp đất màu.

dbscl vua lua ca nuoc
Ảnh chụp kho thóc dự trữ của một nhà máy ở tỉnh Cần Thơ năm 1994 do nhiếp ảnh gia Harry Gruyaert (Bỉ) chụp. 

Vậy tại sao đồng bằng sông Hồng không thể trở thành vựa lúa của cả nước giống như Đồng bằng sông Cửu Long?

Điều quan trọng mà chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là điều kiện tự nhiên khác nhau. Đồng bằng sông Cửu Long đơn giản chỉ là đồng bằng, địa hình thoải tứ hướng , nước lũ dâng lên từ từ. Còn vùng sông Hồng là cả quá trình biển rút, địa hình lồi lõm, phía cao là đồi núi dốc, nguyên vùng nội đô Hà Nội trong các bản đồ cũ cũng mênh mông sông hồ. 

Bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình

Hệ thống đê quai vạc ở Đồng bằng sông Hồng bắt đầu được đắp từ nhà Trần, nhưng qua thời gian nó đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất nông nghiệp ở vùng này. Đi ngược lại quy tắc của tự nhiên, khiến đất đai đồng bằng sông Hồng không được bồi đắp.

Việc xây dựng hệ thống đê điều ở đồng bằng sông Hồng đã tách đồng bằng khỏi chính con sông tạo ra nó, khiến sự màu mỡ do phù sa đem lại sẽ giảm dần theo thời gian. Đó là một lý giải cho sự thoái hóa đất đai ở đồng bằng sông Hồng. Nguyên nhân gây ngập lụt cục bộ và khó khăn cho hệ thống thoát nước hiện đại.

Ban đầu, đê điều chỉ được đắp từng quãng, nhằm bảo vệ những vùng nhất định cần ưu tiên bảo vệ, ví dụ thành quách, kho tàng, làng mạc … Nhưng, trải hàng trăm năm, hệ thống đê điều càng ngày càng được hoàn thiện thì hầu hết các con sông đều được chắn kín bằng các con đê chạy song song hai bên sông ra tới gần cửa biển. Nước cao mùa lũ bị đê điều che chắn, không thể dâng lên vùng đất đồng bằng do nó tạo ra; hệ quả là đáy các con sông càng ngày càng bị nâng cao lên, do lượng phù sa chỉ có thể đọng lại ở đáy sông.

Hệ thống sông chỗ nào cũng đắp đê nên áp lực nước rất lớn. Nếu trong vùng có nơi nào đó vỡ đê, lưu lượng nước toàn vùng lớn sẽ đổ về một vùng nhỏ, gây nên thảm cảnh. Thống kê lịch sử sẽ thấy rằng số lần vỡ đê, lụt lội tăng dần theo thời gian cùng với sự phát triển của hệ thống đê ở miền Bắc. Nếu như trong thời Lý – Trần chỉ ghi nhận dăm ba lần lụt lội, thì thời Lê Sơ – Lê Trung Hưng – Nguyễn tăng lên rất nhiều, trong thời Nguyễn có đến 52 năm vỡ đê. Đó là một trong những lý do tại sao mâu thuẫn nông dân và tầng lớp địa chủ, quý tộc ở miền Bắc rất gay gắt, các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra khắp nơi, các triều đại ra chính sách khuyến nông, khai hoang mở đất nhưng không thu được nhiều kết quả.

Hệ thống đê của miền Bắc luôn luôn đứng trước nhu cầu phải được tôn cao thêm lên mỗi năm. Về mùa lũ, các sông sẽ có hình thế giống như những máng nước khổng lồ treo cao trên đồng ruộng làng mạc Bắc Bộ. Đê vỡ là một nguy cơ thường trực..

Lũ lụt là ám ảnh kinh hoàng đối với người dân miền Bắc và miền Trung
Lũ lụt là ám ảnh kinh hoàng đối với người dân miền Bắc và miền Trung

Xem thêm: Những trận lũ lụt kinh hoàng và vỡ đê ở miền Bắc

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đời nhà Nguyễn đã nhận xét : “Một lần thất sách, để tai hại về sau không biết chừng nào”.

Từ thời mới lập quốc, Hoàng đế Nguyễn Thế Tổ đã xuống chiếu cho quan lại Bắc Thành điều nghiên để cân nhắc lợi hại của việc bỏ đê hay tiếp tục đắp đê, nhưng việc nghiên cứu này dường như đã không cho kết quả và triều Nguyễn … tiếp tục đắp đê.

Triều đình Huế phân vân trong 3 cách: Giữ đê, phá đê và đào thêm sông. Ngay từ thời Nguyễn Thánh Tổ, ông đã nhiều lần lấy ý kiến quần thần về việc này, khi thì hỏi quan địa phương, lúc lại hỏi đình thần nhưng người thì bàn phá đê, người lại chủ trương đào sông mới.
Ý kiến bất đồng quá nhiều, phe ủng hộ và phe phản đối, tới nỗi thời 2 vua Nguyễn Hiến Tổ và Nguyễn Dực Tông phải công khai đi hỏi dân, nhưng không thu được kết quả.

Nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ (1827 – 1871) đã sớm nhận ra mặt trái của hệ đê điều ở đồng bằng Bắc Bộ. Chủ trương đắp đê quai vạc của các triều đại trước, theo ông, là bắt chước theo lối “nhai lại mà không tiêu hoá” hệ đê sông Hoàng Hà của Trung Hoa.

Không phải ngẫu nhiên mà những năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã toan phá bỏ hệ thống đê ở Bắc Bộ. Tất nhiên rồi họ cũng phải mãi mãi từ bỏ dự định ấy, tức là cũng bó tay trước hậu quả lâu dài do lịch sử đắp đê hàng trăm năm của xứ này để lại. Các chính quyền sau này cũng đang loay trong việc giải quyết bài toán này.

Có thể nói đê điều và lũ lụt là một trong những lý do khiến đời sống nông nhân Đàng Ngoài cuối thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn gặp khó khắn, khiến phong trào nông dân nổi dậy nhiều nơi.

Nguồn tham khảo:

  • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
  • Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.
  • Sách Kinh tế và Xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn.
  • Báo Lao động.
  • Báo Nông nghiệp.

Cường Phạm

Related Posts